Bài 15. Làm quen với thiết kế đồ hoạ
Bài học giúp bạn phân biệt hai cách máy tính lưu trữ hình ảnh - ảnh điểm và ảnh vector - hiểu vì sao có ảnh phóng to bị vỡ mà có ảnh phóng to vẫn nét căng, và biết nên chọn loại ảnh nào, dùng phần mềm gì cho từng công việc thiết kế.
- Cánh DiềuTin học 10 - Chủ đề E(ICT) · Bài 1. Tạo văn bản, tô màu và ghép ảnhtr. 147
- Kết nối tri thứcTin học 10 - Bài 12. Phần mềm thiết kế đồ hoạtr. 63–68
Bắt đầu bằng một hình dung
Hãy hình dung hai bức tranh được treo cạnh nhau trong một buổi triển lãm.
Bức thứ nhất được ghép từ hàng chục nghìn hạt cườm nhỏ xíu, mỗi hạt mang một màu, xếp sát nhau tạo thành hình một bông hoa. Đứng cách vài mét, bức tranh trông rất mượt, chẳng khác gì một tấm ảnh chụp thật. Nhưng nếu tiến sát lại gần, thậm chí dùng kính lúp soi vào, bức tranh sẽ hiện rõ ra thành từng hạt cườm vuông vức, rời rạc - hình bông hoa không còn mượt mà nữa, mà lởm chởm từng ô nhỏ.
Bức thứ hai là một hoạ tiết được dựng lên từ compa và thước kẻ: vài đường tròn, vài đoạn thẳng, phối với nhau. Dù phóng to bức vẽ này lên gấp mười lần, gấp trăm lần, các đường nét vẫn mảnh, vẫn mượt như lúc đầu, không hề vỡ thành ô vuông nào.
Vì sao hai bức tranh lại phản ứng khác hẳn nhau khi phóng to? Vì chúng được tạo ra theo hai cách hoàn toàn khác nhau: một bức do ghép rất nhiều điểm nhỏ lại với nhau, còn bức kia do tính toán theo công thức hình học. Máy tính lưu hình ảnh cũng đi theo đúng hai hướng đó - và đó chính là nội dung bài học này.
Nội dung bài học
- 1. Hai cách máy tính lưu hình ảnh
- 2. Ảnh điểm (bitmap/raster) - ghép từ vô số điểm ảnh
- 3. Ảnh vector - vẽ theo công thức hình học
- 4. Chọn loại ảnh nào, dùng phần mềm gì?
Tóm tắt lý thuyết cần nhớ
- Máy tính lưu hình ảnh theo hai cách chính: ảnh điểm (bitmap/raster) và ảnh vector; hai cách lưu khác nhau khiến hai loại ảnh có tính chất rất khác nhau.
- Ảnh điểm ghép từ rất nhiều
pixel(điểm ảnh); ảnh chụp thực tế thường là ảnh điểm; phóng to vượt quá độ phân giải gốc sẽ bị rỗ, vỡ hình. - Ảnh vector được máy tính vẽ lại theo công thức hình học (toạ độ, đường nối, hình dạng) mỗi khi hiển thị; nhờ vậy phóng to bao nhiêu lần đường nét vẫn nét căng, không vỡ.
- Ảnh điểm hợp để lưu ảnh chụp thật; ảnh vector hợp để làm logo,
icon, hình vẽ kĩ thuật; tạo và chỉnh sửa ảnh cần dùng đúng phần mềm đồ hoạ phù hợp với từng loại.
Thuật ngữ tiếng Anh trong bài
| Tiếng Anh | Đọc là | Nghĩa |
|---|---|---|
| pixel | PÍCH-sồ | điểm ảnh (pixel) Một ô vuông màu rất nhỏ - ghép hàng ngàn ô như vậy lại thành một bức ảnh, giống ghép nhiều viên gạch màu thành tranh. |
| vector | VÉC-tơ | ảnh vector Ảnh vẽ bằng công thức đường nét và hình học, nên phóng to bao nhiêu vẫn mượt, không bị vỡ như ảnh bitmap. |
| bitmap | BÍT-mép | ảnh bitmap (ảnh điểm) Ảnh tạo từ rất nhiều điểm ảnh xếp thành lưới - phóng to quá sẽ thấy vỡ, răng cưa. |
| Inkscape | INH-két | phần mềm vẽ ảnh vector Phần mềm miễn phí để vẽ hình bằng đường nét toán học, nên phóng to hình vẽ vẫn nét căng, không mờ. |
| GIMP | GHIM-pờ | phần mềm sửa ảnh miễn phí Phần mềm miễn phí để chỉnh sửa ảnh: cắt ghép, đổi màu, xoá phông - giống Photoshop nhưng không mất tiền. |
| file | phai (như 'phai màu') | tệp tin Một 'gói' dữ liệu có tên lưu trong máy - như một tờ giấy hay cuốn vở đã ghi chép. |
Câu hỏi trắc nghiệm có đáp án
Mấy câu mẫu để bạn tự kiểm tra ngay. Trong ứng dụng, bài này có đủ 20 câu, chấm điểm tự động và giải thích từng câu sai.
- Ảnh vector (vẽ bằng hình học)
- Ảnh điểm (bitmap/raster)
- Ảnh động (nhiều khung hình)
- Ảnh trong suốt (kênh alpha)
- Ảnh vector chỉ có hai màu đen trắng, còn ảnh điểm có nhiều màu hơn, nên vector chỉ dùng để vẽ nét phác cho bản thiết kế
- Ảnh vector được máy tính lưu bằng công thức hình học (toạ độ, đường nối, hình dạng), không lưu màu từng điểm nhỏ như ảnh điểm
- Ảnh vector chỉ dùng được trên điện thoại, còn ảnh điểm chỉ dùng được trên máy tính, do hai loại máy lưu ảnh theo cách khác nhau
- Ảnh vector không thể lưu thành tệp, còn ảnh điểm thì lưu được, nên muốn giữ hình vector thì phải chụp lại màn hình rồi lưu
- Vì máy tính tính sai công thức hình học của bức ảnh khi phóng to, làm các đường nét bị lệch thành ô vuông
- Vì số điểm ảnh trong ảnh gốc là có hạn; khi phóng to, từng điểm ảnh đó bị kéo giãn to ra và lộ rõ thành từng ô
- Vì ảnh chụp luôn có chất lượng kém hơn ảnh vẽ tay, nên phóng to cỡ nào cũng sẽ bị rỗ trước ảnh vẽ
- Vì màn hình hiển thị bị hỏng khi phóng to ảnh, các điểm sáng trên màn hình vỡ ra thành từng ô vuông
- a)Ảnh chụp bằng máy ảnh hoặc điện thoại thường là ảnh điểm (bitmap/raster).Đúng
- b)Ảnh vector lưu màu của từng điểm ảnh riêng lẻ, giống hệt cách ảnh điểm lưu dữ liệu.Sai
- c)Phóng to một ảnh vector lên nhiều lần, đường nét của hình vẫn mảnh, vẫn mượt, không bị vỡ thành từng ô vuông.Đúng
- d)
SVGlà định dạng tệp thường dùng cho ảnh điểm, cònJPGlà định dạng tệp thường dùng cho ảnh vector.Sai
- (a) đúng vì máy ảnh, điện thoại ghi lại ánh sáng tại hàng triệu điểm trên cảm biến, tạo ra ảnh điểm.
- (b) sai vì ảnh vector lưu công thức hình học (toạ độ, đường, hình dạng), không lưu màu từng điểm ảnh riêng lẻ như ảnh điểm.
- (c) đúng vì ảnh vector luôn được tính toán lại từ công thức khi hiển thị nên phóng to vẫn không vỡ hình.
- (d) sai vì thực tế ngược lại: SVG là định dạng thường dùng cho ảnh vector, còn JPG thường dùng cho ảnh điểm.
Thử ngay: minh hoạ từng bước
Bấm từng bước để tự xem cơ chế hoạt động, hoặc bấm “Tự chạy” cho nó tiến mỗi giây một lần. Đổi được dữ liệu đầu vào - không cần đăng nhập.
Học trọn bài này trong ứng dụng
Bài giảng đầy đủ, 20 câu luyện tập chấm tự động, thi thử đúng cấu trúc đề tốt nghiệp (24 trắc nghiệm + 4 Đúng/Sai), bài thực hành máy tự chấm và gia sư AI giải thích chỗ sai.
Phần học miễn phí, không cần tạo tài khoản.
Bài liên quan - Ứng dụng tin học & Thiết kế web
Cùng mạch kiến thức với bài này, học nối tiếp cho chắc phần lí thuyết.